Tin Hải Hậu
Cảnh ven biển với tuyến đê, ruộng lúa và thuyền nhỏ dưới trời nhiều mây

Lịch sử – Hành chính

Đê biển Hải Hậu: hơn một thế kỷ đắp, giữ và tu bổ

Từ một vùng bãi bồi được mở đất từ nhiều thế kỷ trước, Hải Hậu đã hình thành một tuyến đê biển gắn với công cuộc quai đê, lấn biển và chống xâm thực. Lịch sử của tuyến đê này phản ánh rõ cách cư dân ven biển giữ đất trước sóng gió.

Đăng 11/10/2026•Tác giả: Ban biên tập Tin Hải Hậu
Chia sẻ:

Đê biển Hải Hậu là một phần của lịch sử mở đất ở vùng ven biển nay thuộc 8 xã của tỉnh Ninh Bình. Từ một dải bãi bồi nhiều biến động, cư dân nơi đây đã tạo dựng làng mạc, ruộng đồng rồi từng bước đắp đê, giữ bờ để thích ứng với sóng gió và triều cường. Vì thế, lịch sử của tuyến đê không tách rời lịch sử hình thành cộng đồng cư dân Hải Hậu.

Tư liệu địa phương cho thấy Hải Hậu là miền đất mới được mở mang từ thế kỷ XV. Đầu thế kỷ ấy, nơi đây còn là bãi bồi hoang vu; tứ tổ Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập đã tập hợp nhân dân về khai hoang, mở đất lập nên ấp Phú Cường. Đến ngày 27/12/1888, huyện Hải Hậu được thành lập với 28 xã, lý, ấp. Từ đó, những lớp dân cư mới tiếp tục mở rộng vùng canh tác, tổ chức lại sản xuất và củng cố tuyến phòng hộ ven biển.

Từ khai hoang mở đất đến những lớp đê đầu tiên

Trong tiến trình ấy, đê biển ban đầu không phải là một công trình kiên cố như ngày nay mà là những lớp đắp nối tiếp nhau, bám theo từng bãi bồi, từng mép nước. Cư dân vừa quai đê lấn biển, vừa đào sông, đắp đường, thau chua rửa mặn để giữ đất và tạo ruộng. Nhiều làng xóm hình thành từ chính các cuộc dịch chuyển ấy, khi con người tiến dần ra phía biển rồi lại phải lùi vào trong mỗi khi sóng lớn đổi dòng bờ bãi.

Khu vực Xương Điền ở Hải Lý cũ là một ví dụ điển hình. Nơi này được hình thành từ công cuộc quai đê lấn biển của người dân từ những năm đầu thế kỷ XVIII, ban đầu được gọi là Cồn Cát Bể rồi dần phát triển thành làng chài Xương Điền. Từ đây có thể thấy quá trình làm đê ở Hải Hậu không chỉ nhằm ngăn nước mặn, mà còn mở đường cho cư trú, đánh bắt và sản xuất ven biển.

Nhìn rộng hơn, các thế hệ người dân Hải Hậu đã tạo ra một không gian sống dựa trên sự thích ứng liên tục với biển. Mỗi lần mở thêm một bãi mới cũng đồng nghĩa với việc cần thêm một lớp đê mới, một cách tổ chức cộng đồng mới và một hình thức canh tác phù hợp hơn với điều kiện đất mặn, nước chua. Chính nhịp điệu đó đã làm nên đặc điểm riêng của vùng ven biển này.

Khi biển lấn mạnh hơn đất

Sang đầu thế kỷ XX, tình thế bắt đầu đổi chiều. Biển không còn chỉ là nguồn lợi mà trở thành sức ép trực tiếp lên bờ đê, làng mạc và nhà cửa. Tư liệu báo chí ghi nhận Hải Lý và Hải Hòa là hai xã bị biển xâm thực mạnh nhất trên tuyến đê Hải Hậu. Đây là giai đoạn bờ biển liên tục lấn sâu vào đất liền, khiến nhiều khu dân cư phải di dời và nhiều hạng mục phòng hộ cũ không còn đủ sức chống đỡ.

Cảnh minh họa chung về làng ven biển với đê đất, ruộng lúa và thuyền nhỏ
Ảnh minh họa chung cho không gian ven biển Hải Hậu với đê, ruộng và thuyền nhỏ

Những biến động ấy để lại nhiều dấu vết trên bờ biển Hải Hậu. Một số công trình dân cư, tôn giáo và làng chài từng nằm khá xa mép nước về sau bị sóng biển đe dọa hoặc phá hủy. Câu chuyện này cho thấy quá trình giữ đất ở Hải Hậu không phải là một lần làm rồi xong, mà là một chuỗi dài đối phó với biển tiến, gió lớn và sự xói lở kéo dài.

Đáng chú ý, năm 2005, bão số 7 đã phá hủy hoàn toàn tuyến đê chắn sóng phía ngoài, xóa sổ làng chài Xương Điền-Văn Lý. Sự kiện đó cho thấy các tuyến đê đất và đê chắn sóng cũ không còn đủ an toàn trước sức mạnh của sóng biển. Từ thực tế ấy, yêu cầu cứng hóa và gia cố tuyến đê biển Hải Hậu trở nên cấp thiết hơn.

Cứng hóa và tu bổ để giữ tuyến đê trước sóng lớn

Từ trước năm 2010, Nhà nước đã chủ trương cứng hóa tuyến đê biển Hải Hậu. Trên mái đê phía ngoài, các lớp chắn sóng được lát kín theo chiều mái đê; xa hơn là những khối bê tông cốt thép được xếp dọc tuyến để giảm áp lực sóng. Việc thay đổi vật liệu và kết cấu phản ánh một bước chuyển lớn: từ đê đất truyền thống sang hệ thống phòng hộ kiên cố hơn, thích ứng với điều kiện biển ngày càng khắc nghiệt.

Những năm gần đây, công tác giữ đê vẫn tiếp tục. Dự án thành phần số 2 - Đê biển Cồn Tròn, Hải Thịnh thuộc Dự án Củng cố, hoàn thiện đê biển một số tỉnh Bắc Bộ đang được triển khai với tổng mức đầu tư 500 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương. Dự án gồm các hạng mục chính ở Cồn Tròn, Hải Thịnh 2, kè Thịnh Long và Hải Thịnh 3, kết hợp thềm giảm sóng, mỏ hàn và thay thế các đoạn kè hư hỏng.

Tháng 3/2026, cơ quan chức năng của tỉnh kiểm tra và ghi nhận nhiều vị trí sạt, sập trên hệ thống đê, kè biển Hải Thịnh. Các đoạn kè Hải Thịnh II và Hải Thịnh III xuất hiện hố sạt lớn, buộc địa phương phải khẩn trương khắc phục để bảo đảm an toàn trong mùa mưa bão năm 2026. Những đợt xử lý như vậy cho thấy đê biển Hải Hậu vẫn là công trình phải được theo dõi và tu bổ thường xuyên.

Trên thực tế, tuyến đê này không chỉ bảo vệ khu dân cư mà còn giữ cho ruộng đồng, vùng nuôi trồng thủy sản và hệ sinh thái ven biển được ổn định. Mỗi lần gia cố đê là một lần người dân và chính quyền điều chỉnh thế cân bằng giữa đất liền với biển cả. Đó cũng là lý do lịch sử đê biển Hải Hậu luôn gắn với lịch sử lao động, ứng phó thiên tai và thích nghi môi trường của cư dân vùng cửa biển.

Giá trị lịch sử của một tuyến đê ven biển

Nhìn từ chiều dài thời gian, đê biển Hải Hậu là kết quả của nhiều lớp người nối tiếp nhau giữ đất trước sóng. Từ những cuộc khai hoang thời đầu cho tới các đợt cứng hóa, tu bổ trong thời hiện đại, tuyến đê này cho thấy sự bền bỉ của một cộng đồng cư dân luôn sống chung với biến động ven biển. Nó không chỉ là công trình thủy lợi, mà còn là một dấu mốc của lịch sử mở đất và lịch sử phòng hộ ven bờ.

Cảnh minh họa chung về công trình đê biển đang được gia cố bằng khối bê tông chắn sóng
Ảnh minh họa chung cho hoạt động gia cố và tu bổ đê biển ven bờ

Trong bối cảnh Hải Hậu cũ nay đã được sắp xếp thành 8 xã của tỉnh Ninh Bình, vai trò của tuyến đê biển vẫn không thay đổi. Phía sau đê là làng xóm, đồng ruộng và sinh kế ven biển; phía trước đê là sóng gió và triều cường. Giữa hai phía ấy là một lịch sử dài của đắp, giữ, tu bổ và thích ứng, qua đó hình thành diện mạo riêng của vùng đất Hải Hậu.

Hỏi đáp nhanh

Đê biển Hải Hậu hình thành từ bối cảnh nào?

Tuyến đê gắn với quá trình khai hoang, lấn biển và mở đất kéo dài nhiều thế kỷ ở vùng ven biển Hải Hậu. Đây là kết quả của nhu cầu giữ bờ, giữ ruộng và bảo vệ cộng đồng cư dân mới lập.

Vì sao đê biển Hải Hậu phải cứng hóa?

Vì biển ngày càng xâm thực mạnh, nhiều đoạn bờ và đê đất cũ không còn đủ sức chống chịu trước sóng lớn, bão và triều cường. Cứng hóa giúp tăng khả năng phòng hộ và ổn định khu dân cư ven biển.

Đê biển Hải Hậu còn được tu bổ trong giai đoạn nào?

Những năm gần đây, tuyến đê vẫn tiếp tục được xử lý, nhất là ở khu vực Hải Thịnh. Các đợt sạt, sập mái kè cho thấy việc tu bổ vẫn là nhiệm vụ thường xuyên.

Đọc thêm

Bài viết liên quan