Tin Hải Hậu
Khung cảnh làng quê ven biển với lối đi nhỏ, cánh đồng và không khí trang nghiêm của một không gian thờ tự cổ.

Di tích – Văn hóa

Đền Bảo Ninh ở Hải Hậu: đối tượng thờ và kiến trúc

Nằm ở khu vực Hải Phương cũ, nay thuộc xã Hải Hậu, đền Bảo Ninh là một quần thể thờ tự gắn với truyền thống khai hoang và tín ngưỡng dân gian ở vùng biển. Giá trị của di tích nằm ở lớp tượng thờ phong phú, bố cục kiến trúc nhiều tòa và hệ thống đồ thờ còn lưu giữ.

Đăng 11/10/2026•Tác giả: Ban biên tập Tin Hải Hậu
Chia sẻ:

Vị trí và lớp ký ức của một di tích ven biển

Đền Bảo Ninh nằm ở khu vực Hải Phương cũ, nay thuộc xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình. Di tích gắn với vùng đất được hình thành từ quá trình khai hoang, lấn biển, vì vậy hệ thống thờ tự ở đây phản ánh khá rõ ký ức mở đất, lập làng của cộng đồng cư dân ven biển.

Theo tư liệu tại đền, công trình được dựng năm 1867, làm lại vào năm 1909 và được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1999. Trên nền lịch sử hơn một thế kỷ rưỡi, đền vừa là nơi thờ tự, vừa là không gian lưu giữ nhiều lớp ký ức cộng đồng của Hải Hậu.

Điểm đáng chú ý của Đền Bảo Ninh là sự kết hợp giữa thờ phụng các bậc anh hùng, thần linh, tổ tiên lập ấp và những nhân vật có công với địa phương. Chính vì vậy, nếu nhìn riêng từ đối tượng thờ, ngôi đền không chỉ thuộc nhóm di tích thờ thành hoàng hay thờ Mẫu đơn lẻ, mà là một quần thể tín ngưỡng mang tính tổng hợp.

Những đối tượng được phối thờ

Ở chính cung và các lớp thờ, đền thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Bát Hải Long Vương và Vân Hương Thánh Mẫu. Đây là những đối tượng thờ phổ biến trong không gian tín ngưỡng vùng đồng bằng ven biển, nơi cư dân vừa cầu quốc thái dân an, vừa mong che chở trước sóng gió và biến động của tự nhiên.

Cảnh làng quê Việt Nam với lối đi nhỏ, ruộng xanh và không khí yên tĩnh của một không gian thờ tự ở xa.
Ảnh minh họa chung cho không gian làng quê gắn với di tích thờ tự ven biển

Bên cạnh đó, đền còn phối thờ các bậc tiền nhân có công mở đất, lập làng của vùng Quần Anh xưa. Tư liệu tại di tích ghi nhận bốn vị Tứ Tổ khai sáng gồm Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia và Phạm Cập. Cùng với họ là chín dòng họ khai cơ: Lại, Nguyễn, Lê, Đỗ, Bùi, Phan, Đoàn, Trần và Vũ.

Đền cũng thờ Tiến sĩ, Dinh điền sứ Đỗ Tông Phát, nhà khoa bảng đầu tiên của quê hương Hải Hậu. Trong ký ức địa phương, ông là người có công khai khẩn Tổng Quế Hải, một trong bốn tổng buổi đầu khi huyện Hải Hậu được thành lập năm 1888. Việc đặt Đỗ Tông Phát trong hệ thống thờ phụng cho thấy ngôi đền dành vị trí trang trọng cho cả công lao khai khẩn ruộng đất lẫn đóng góp văn trị.

Hệ thống đối tượng thờ ở đây vì thế tạo thành một trục ý nghĩa khá rõ: từ thần linh bảo trợ cho vùng đất, đến người mở đất, lập làng, rồi đến nhân vật khoa bảng tiêu biểu. Đó là cách cộng đồng địa phương ghi nhớ nguồn gốc của mình qua không gian thờ tự.

Bố cục kiến trúc của quần thể đền

Quần thể Đền Bảo Ninh được bố trí trên khu đất rộng hơn 3.000 m2, gồm nhiều công trình thờ tự liên đới. Phía trước là hệ thống cột đồng trụ và nghi môn, được trang trí bằng các đề tài quen thuộc của mỹ thuật truyền thống như nghê chầu, hổ phù, tứ linh và tứ quý. Ngay từ mặt tiền, di tích đã tạo cảm giác trang nghiêm nhưng không nặng nề.

Khu thờ tự gồm 6 tòa với 30 gian lớn nhỏ; trong đó đền chính có 15 gian. Bố cục tổng thể được tổ chức theo kiểu gian nối gian, tạo nên nhịp điệu không gian chặt chẽ. Dáng dấp kiến trúc chính của đền được mô tả theo kiểu tiền chữ Nhật, hậu chữ Công, tức phần trước thanh thoát, phần sau liên hoàn, cân đối.

Hai bên đền là Nhà thờ Tổ và Phủ thờ Mẫu, đều thiết kế theo kiểu chữ Đinh. Những mảng chạm khắc nổi ở đây dùng nhiều mô típ lá lật, long chầu mặt nguyệt, hổ phù, rồng bay, phượng múa và hoa lá. Các chi tiết ấy không chỉ làm đẹp cho công trình mà còn cho thấy tay nghề của thợ chạm truyền thống và thị hiếu thẩm mỹ của cư dân vùng biển đồng bằng.

Trong không gian nội thất, đền còn lưu giữ nhiều đồ thờ có giá trị như ngai, khám, nhang án, hoành phi, câu đối và đại tự. Đây là những thành phần không thể thiếu trong một di tích thờ tự truyền thống, giúp hoàn chỉnh nghi lễ và tạo nên chiều sâu trang trọng cho nội điện.

Vai trò trong đời sống tín ngưỡng địa phương

Không gian thờ tự của Đền Bảo Ninh không tách rời đời sống cộng đồng. Hàng năm, vào trung tuần tháng 3 âm lịch, chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức lễ hội đền. Lễ hội có các nghi thức tế lễ, rước kiệu, cùng những hoạt động văn hóa như cờ tướng, tổ tôm điếm, múa sư tử, hát chèo và hát văn. Nhịp sinh hoạt ấy khiến đền vừa là nơi thờ phụng, vừa là nơi gặp gỡ của cộng đồng.

Cảnh ven biển với đê, thuyền nhỏ và đồng muối dưới bầu trời nhiều mây.
Ảnh minh họa chung cho cảnh quan ven biển gắn với đời sống cư dân địa phương

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đền từng là cơ sở cách mạng, nơi họp bí mật của lực lượng Việt Minh, điểm tập kết bộ đội và du kích, đồng thời là nơi cứu chữa thương binh. Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, di tích tiếp tục được sử dụng làm nơi bồi dưỡng đối tượng Đảng, sinh hoạt của hợp tác xã và trường học cho con em địa phương. Những lớp sử dụng nối tiếp này cho thấy đền không chỉ tồn tại như một công trình tôn giáo, mà còn gắn với biến động xã hội của làng quê.

Từ năm 2020, đền được trùng tu, tôn tạo bằng nguồn xã hội hóa với tổng kinh phí gần 30 tỷ đồng. Việc tu bổ tập trung vào các hạng mục như tháp chuông, hồ bán nguyệt, cổng chào và đường vào khu di tích, qua đó cải thiện điều kiện bảo tồn mà vẫn giữ được diện mạo của một di tích cổ.

Nhìn tổng thể, giá trị nổi bật của Đền Bảo Ninh nằm ở sự giao hòa giữa đối tượng thờ đa dạng và kiến trúc quần thể cổ truyền. Đây là một di tích tiêu biểu để nhận diện lịch sử mở đất của Hải Hậu qua ngôn ngữ của thờ tự và nghệ thuật kiến trúc.

Hỏi đáp nhanh

Đền Bảo Ninh thờ những ai?

Đền thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Bát Hải Long Vương, Vân Hương Thánh Mẫu, Tứ Tổ khai sáng, chín dòng họ khai cơ và Tiến sĩ Đỗ Tông Phát.

Kiến trúc của đền có gì nổi bật?

Quần thể gồm 6 tòa 30 gian, đền chính 15 gian, hai bên là Nhà thờ Tổ và Phủ thờ Mẫu kiểu chữ Đinh. Mặt tiền có cột đồng trụ, nghi môn và nhiều đề tài chạm khắc truyền thống.

Đền Bảo Ninh được xếp hạng di tích từ khi nào?

Di tích được xếp hạng cấp quốc gia từ năm 1999.

Lễ hội đền diễn ra vào thời điểm nào?

Lễ hội tổ chức vào trung tuần tháng 3 âm lịch với tế lễ, rước kiệu và nhiều trò chơi, diễn xướng dân gian.

Đọc thêm

Bài viết liên quan